Thuế nhà thầu là thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam mà không hoạt động theo Luật Đầu tư hoặc Luật Doanh nghiệp Việt Nam. Loại thuế này được quy định tại Thông tư 103/2014/TT-BTC và bao gồm hai thành phần: thuế GTGT nhà thầu và thuế TNDN nhà thầu (hoặc thuế TNCN nếu là cá nhân). Thuế nhà thầu áp dụng trong nhiều tình huống phổ biến: thuê chuyên gia nước ngoài tư vấn, mua phần mềm bản quyền từ công ty nước ngoài, thuê dịch vụ cloud computing, thuê quảng cáo Google hoặc Facebook, thanh toán phí quản lý cho công ty mẹ ở nước ngoài. Tỷ lệ thuế nhà thầu phụ thuộc vào loại dịch vụ: dịch vụ tư vấn chịu thuế GTGT 5% và thuế TNDN 5%, bản quyền phần mềm chịu thuế GTGT 0% (hoặc miễn) và thuế TNDN 10%, lãi vay chịu thuế TNDN 5% và không chịu thuế GTGT. Ví dụ, một công ty Việt Nam thanh toán 100.000 USD cho nhà thầu nước ngoài cung cấp dịch vụ tư vấn. Công ty Việt Nam phải khấu trừ và nộp thuế nhà thầu gồm thuế GTGT 5% (5.000 USD) và thuế TNDN 5% (5.000 USD), tổng cộng 10.000 USD. Bên Việt Nam chịu trách nhiệm kê khai và nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài. Thời hạn kê khai là tháng tiếp theo sau tháng phát sinh thanh toán. Thuế nhà thầu đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp FDI và ngành xây dựng vì thường xuyên sử dụng nhà thầu phụ nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp bị truy thu thuế nhà thầu với số tiền lớn vì không nhận thức được nghĩa vụ này khi thanh toán cho đối tác nước ngoài.