Hàng tồn kho là toàn bộ hàng hóa, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang và thành phẩm mà doanh nghiệp đang nắm giữ để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường, đang trong quá trình sản xuất, hoặc để sử dụng trong quá trình sản xuất. Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02), hàng tồn kho được ghi nhận theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác. Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong các phương pháp tính giá xuất kho: nhập trước xuất trước (FIFO), bình quân gia quyền (cả kỳ hoặc sau mỗi lần nhập), và giá đích danh. Phương pháp FIFO phổ biến trong thương mại điện tử và bán lẻ vì phản ánh sát giá thị trường. Kế toán theo dõi hàng tồn kho trên tài khoản 152 (nguyên liệu, vật liệu), 153 (công cụ, dụng cụ), 154 (chi phí sản xuất dở dang), 155 (thành phẩm), và 156 (hàng hóa). Cuối kỳ, doanh nghiệp phải kiểm kê thực tế hàng tồn kho và so sánh với sổ sách. Nếu giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc, doanh nghiệp phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho (tài khoản 229). Đối với doanh nghiệp thương mại tại Bình Dương, Đồng Nai và TP. Hồ Chí Minh, quản lý hàng tồn kho hiệu quả là yếu tố then chốt để tối ưu dòng tiền và giảm chi phí lưu kho. Hàng tồn kho quá nhiều gây đọng vốn, quá ít dẫn đến mất cơ hội kinh doanh. Kế toán cần phối hợp với bộ phận kho vận để đảm bảo số liệu chính xác và kịp thời.