Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhất định (thường là quý hoặc năm). Khác với bảng cân đối kế toán phản ánh tại một thời điểm, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh hoạt động trong suốt một giai đoạn. Cấu trúc của báo cáo đi từ doanh thu thuần đến lợi nhuận sau thuế qua nhiều bước. Đầu tiên, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá, hàng trả lại) ra doanh thu thuần. Doanh thu thuần trừ giá vốn hàng bán ra lợi nhuận gộp. Lợi nhuận gộp trừ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, cộng với doanh thu hoạt động tài chính trừ chi phí tài chính, ra lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh. Cuối cùng cộng lợi nhuận khác ra tổng lợi nhuận trước thuế, trừ thuế TNDN ra lợi nhuận sau thuế. Ví dụ, một công ty thương mại có doanh thu thuần 20 tỷ đồng, giá vốn 14 tỷ, chi phí bán hàng 2 tỷ, chi phí quản lý 1,5 tỷ, thì lợi nhuận thuần là 2,5 tỷ đồng. Báo cáo này giúp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh, so sánh giữa các kỳ và với đối thủ cùng ngành. Các chỉ số quan trọng gồm biên lợi nhuận gộp, biên lợi nhuận ròng, và tốc độ tăng trưởng doanh thu. Doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến tỷ lệ giá vốn trên doanh thu vì đây là chỉ số phản ánh trực tiếp hiệu quả sản xuất và mua hàng. Báo cáo kết quả kinh doanh tại Việt Nam được lập theo mẫu B02-DN và là một phần không thể thiếu trong bộ báo cáo tài chính nộp cho cơ quan thuế.